Nhà báo nói chuyện làm báo

(NTD) - Tôi vào nghề báo rất sớm, năm 19 tuổi, trước khi làm báo tôi đã viết sách, do sách lúc đó bán chạy, có chút tên tuổi nên tôi vào làng báo tương đối thuận lợi. Còn nhớ, lúc đó khoảng năm 1968, Nhật báo Sống do ông Chu Tử làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, tòa soạn ở ngay góc đường Gia Long (Lý Tự Trọng bây giờ) và Thủ Khoa Huân Q.1 có tổ chức một đoàn công tác xã hội từ thiện xây lò gạch ở Kiên Giang. Mục đích xây lò gạch là để làm ra những viên gạch tại chỗ, rồi dùng những viên gạch này xây nhà cho dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Đây là chủ trương rất mới, nhằm nâng cao uy tín của tờ báo. Được biết, lúc đó báo Sống phát hành 200.000 số/ngày. Một con số phát hành khá lớn.

3

Nhà văn Từ Kế Tường kể về hành trình tìm lại bản in của 3 truyện dài sau 40 năm.

Tôi tới báo Sống không phải xin vào làm phóng viên mà xin làm... nhân viên theo đoàn công tác xã hội từ thiện đi xây lò gạch. Do còn rất trẻ và sẵn máu phiêu lưu trong người nên tôi thích làm công việc này. Ông Chu Tử không hỏi gì nhiều, cũng không ra vẻ gì muốn thử thách tôi, chỉ hỏi vài câu chiếu lệ rồi viết cho tôi cái thư tay xác nhận và giới thiệu tôi xuống Kiên Giang gặp anh Tú Kếu, trưởng đoàn công tác xã hội từ thiện của báo, đang đóng quân tại Kiên Giang. Anh Tú Kếu là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, giữ mục Thơ Chua cho Nhật báo Sống, vốn đã quen biết với tôi từ lâu, vì ngoài việc làm thơ trào phúng anh còn làm thơ tình, ký tên thật là Trần Đức Uyển.

Khi đến Kiên Giang, tôi tìm đến nơi “đóng quân” của đoàn tại khách sạn Phú Sĩ, ngay trung tâm thành phố Rạch Giá. Hóa ra tôi gặp ở đây toàn những gương mặt thân quen trong giới văn nghệ, có cả nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang nổi tiếng với những bài hát trẻ trung, rất thanh niên mà hồi đó gọi là phong trào “Du ca”. Tôi được xếp vào đội của nhà thơ Mặc Tưởng, trong nhóm chủ trương tờ văn nghệ Huyền với Trần Tuấn Kiệt mà tôi từng có thơ đăng ở đây.

Sáng hôm sau tôi cũng vác cuốc ra hiện trường để đào đất sét từ cánh đồng trước mặt lên nắn thành những viên gạch phơi nắng trước khi cho vào lò nung thành gạch. Buổi tối về... họp đội rút kinh nghiệm và định hướng cho công việc ngày hôm sau. Công việc cứ thế trôi qua từng ngày trong nhịp sống buồn tẻ và không có gì hứng khởi theo như tôi tưởng trước khi về đây. Sau một tuần tiếp cận với hiện trường công việc và tiếp xúc nhiều anh em trong đoàn công tác xã hội từ thiện, tôi nắm thêm được nhiều vấn đề bất cập mà có thể ở xa nên ông Chu Tử chưa biết. Tôi quyết định nghỉ việc quay về Sài Gòn và ngồi nhà viết một phóng sự về đoàn công tác xã hội từ thiện của báo. Xong bài phóng sự dài mà chủ yếu là phê phán cách làm của đoàn tổ chức còn quá nhiều bất cập không đúng như ý nghĩa và mục đích của báo đề ra. Tôi mang bài phóng sự dài này đến tòa soạn đưa cho ông Chu Tử và trình bày mục đích khi tôi viết bài phóng sự này. Cuối cùng tôi nói thẳng: Bác cứ xem, nếu thấy được thì đăng, không thì cứ bỏ, không sao cả. Nhưng cháu thấy mình phải có trách nhiệm, phải viết ra sự thật.

2

Một sạp báo ở Sài Gòn trước năm 1975.

Tôi về nhà, cứ nghĩ là ông Chu Tử sẽ không đăng bài phóng sự phê phán rất thẳng thắn của tôi. Nhưng không ngờ sáng hôm sau bài phóng sự được đăng và đăng suốt một tuần lễ mới dứt. Nhìn chung, ông Chu Tử cũng có biên tập, sửa và cắt những chỗ phê phán nặng nề, còn lại thì ông cho đăng hết. Sau đó, ông nhắn tôi tới tòa soạn lãnh nhuận bút. Một khoản tiền khá lớn mà tôi nhận được lúc bấy giờ so với tuổi của mình và do chính bài viết của mình lần đầu tiên được đăng trên tờ báo lớn, lại là một bài phóng sự dài. Ông Chu Tử bảo tôi: “Nếu cậu không thích đi theo đoàn công tác xã hội từ thiện thì về đây làm việc tại tòa soạn”. Ngay hôm sau tôi chính thức trở thành phóng viên của Nhật báo Sống, một tờ báo lớn, có uy tín và nổi tiếng lúc bấy giờ.

Hôm sau anh Đằng Giao, Tổng thư ký tòa soạn phân công tôi đi họp báo, không có một tờ giấy giới thiệu, không cho biết nơi tổ chức sự kiện này, chỉ cho biết có cuộc họp báo diễn ra và cần có bài tường thuật đăng trang nhất, chạy suốt 8 cột báo. Tôi đã tìm ra địa điểm họp báo và có bài tường thuật đầy đủ. Bài tường thuật của tôi được ông Chu Tử khen và ông quyết định không cho tôi làm phóng viên nữa mà rút về làm tòa soạn. Tôi được giao làm tin trang 3 và biên tập tin trang cuối, lúc đó gọi là “Tin xe cán chó” của “Hãng thông tấn Võ Cân - Văn Đô”. Hai ông này hàng ngày chạy đi lấy tin, về viết phần “thô” in roneo phân phát cho các báo tùy nghi sử dụng, tất nhiên báo phải trả tiền. Tôi đã chọn lọc những tin này, biên tập, đặt tít lại cho hấp dẫn, trở thành một “hiện tượng” đình đám, giúp báo tăng số lượng nên ông Chu Tử rất thích.

Có một kỷ niệm đáng nhớ trong cuộc đời làm báo của tôi từ khi mới vào nghề. Đó là khi tôi thay anh Tú Kếu giữ mục “Thơ hôm nay” và “thơ chua” vì anh Tú Kếu bị động viên đi quân dịch. Một hôm ông Chu Tử đưa cho tôi một bài thơ và bảo tôi xem, nếu thấy được thì đăng. Nhưng tôi thấy bài thơ không hay nên không đăng. Qua mấy số báo liền, không thấy bài thơ được đăng ông Chu Tử kêu tôi lại hỏi lý do, tôi bảo thơ dở nên cháu không đăng, sợ mất uy tín của tờ báo và mất uy tín của bác. Ông Chu Tử đã nổi nóng, đập bàn, bảo tôi tại sao dám không đăng bài thơ của bạn mình. Và nhấn mạnh trong tòa soạn chưa có ai dám không đăng bài của ông đưa, như tôi.

Sau sự việc này tôi tưởng mình đã bị ông Chu Tử đuổi việc, nhưng thật ngạc nhiên, tôi không bị đuổi mà còn được tăng lương bất ngờ. Và từ đó ông Chu Tử lại giao cho tôi thêm nhiều việc khác, thuộc vào những công việc khá nặng nề của tòa soạn.

Bài học nhớ đời khi bước vào làng báo của tôi như muốn truyền lại thông điệp cho các nhà báo trẻ hiện nay là: Hãy làm hết trách nhiệm, dũng cảm bào vệ quan điểm của mình nếu đó là quan điểm đúng, vì cái chung, vì uy tín của tờ báo. Điều này rất cần để trở thành một nhà báo chân chính và sẽ được lãnh đạo tin tưởng, bạn đọc quý trọng.

Từ Kế Tường